P/E là gì? Tìm hiểu P/E từ A đến Z

Share:

chỉ số p/e
Chỉ số P/E (Price to Earning Ratio), là một trong những chỉ số tài chính cơ bản nhất, được sử dụng rộng rãi để định giá cổ phiếu.


Chỉ số P/E

Chỉ số P/E(Price to Earning Ratio), là một trong những chỉ số tài chính cơ bản nhất, được sử dụng rộng rãi để định giá cổ phiếu. Ngoài việc cho thấy giá cổ phiếu của một công ty được định giá cao hay bị định giá thấp, P/E có thể tiết lộ cách định giá của cổ phiếu so với nhóm ngành hoặc chỉ số chung VN-Index.

Chỉ số EPS

Thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) là số tiền lãi của một công ty được phân bổ trên mỗi cổ phiếu đang lưu hành của công ty, đóng vai trò là một chỉ số về sức khỏe tài chính của công ty.

Nói cách khác, thu nhập trên mỗi cổ phiếu là một phần thu nhập ròng của công ty trên mỗi cổ phiếu (nếu tất cả lợi nhuận được trả cho các cổ đông).

EPS thường được sử dụng bởi các nhà phân tích tài chính và Trader để thiết lập sức mạnh tài chính của một công ty.

Do EPS là thành phần tạo nên chỉ số P/E, nên định nghĩa về P/E phải đi chung với định nghĩa về EPS.

Cách tính P/E

Công thức tính tỷ lệ P/E cho bất kỳ cổ phiếu nào rất đơn giản: giá trị thị trường trên mỗi cổ phiếu chia cho thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS). Điều này được biểu diễn dưới dạng phương trình (Price / EPS), trong đó P là giá thị trường và EPS là thu nhập trên mỗi cổ phiếu.

Ví dụ, 31/12/ 2017, Tập đoàn Bank of America (BAC) đã kết thúc năm với các chỉ số:
EPS = 1,56 đô la
Giá = $ 29,52
Tỷ lệ P/E của Bank of America (BAC) là:
P/E=$ 29,52 / $ 1,56 = 18,92

Nói cách khác, Bank of America (BAC) đã giao dịch với thu nhập khoảng 19 lần.

Lưu ý: EPS của một công ty thường được cung cấp trên các trang web tài chính như cafef, vietstock hoặc báo cáo phân tích chứng khoán có sẵn miễn phí và dễ dàng tìm trên google. Tuy nhiên, nếu nhà đầu tư muốn tự tính toán EPS, công thức thường như sau: (Thu nhập ròng - Cổ tức trên cổ phiếu ưu đãi / Cổ phiếu đang lưu hành trung bình của cổ phiếu phổ thông). Nhớ rằng chệnh lệch số liệu có thể do một số nguồn sử dụng số lượng cổ phiếu được giao dịch vào cuối kỳ chứ không phải trung bình trong kỳ.

Do các thay đổi nhỏ trong công thức, các nguồn khác nhau có thể báo cáo các giá trị EPS khác nhau cho cùng một công ty. Tuy nhiên, những thứ này thường được tính trung bình cùng nhau để tạo ra một EPS trung bình.


trailing-pe-va-foward-pe


Forward P/E

Forward P/E (hay còn gọi là P/E dự tính) sử dụng EPS dự phóng trong tương lai để tính toán. Forward P/E được tính bằng công thức:
PE Forward = Giá thị trường của cổ phiếu / EPS kì vọng


foward-pe

EPS kì vọng không đáng tin cậy bằng các số liệu về EPS hiện tại. Tuy nhiên PE dự tính vẫn có lợi trong việc phân tích. Mức thu nhập dự tính được sử dụng trong công thức có thể được sử dụng trong 12 tháng tiếp theo hoặc cho cả năm tài chính.

PE dự tính của một công ty thường được sử dụng để so sánh thu nhập hiện tại với thu nhập trong tương lai. Nếu thu nhập được kì vọng sẽ tăng trong tương lai, PE dự tính sẽ thấp hơn PE hiện tại. Chỉ số này cũng giúp so sánh về tương lai giữa các công ty khác nhau.

Dù rằng chỉ báo Forward P/E này rất hữu ích, nhưng vẫn có những vấn đề với số liệu Foward P/E. Cụ thể: các công ty có thể đánh giá thấp EPS của họ, để thay đổi con số P/E tự tính, khi báo cáo của quý tiếp theo được công bố.

Trailing P/E

Trailing P/E là P/E được tính bằng cách chia giá cổ phiếu hiện tại (P) cho tổng thu nhập EPS trong 12 tháng qua.

Đây là số liệu P / E phổ biến vì đó là số liệu khá khách quan. Một số nhà đầu tư thích xem P / E Trailing vì họ không tin tưởng vào ước tính EPS tương lai của cổ phiếu. Nhưng Trailing P / E cũng có những thiếu sót, hiệu suất trong quá khứ của một công ty không báo hiệu hành vi trong tương lai.

Nếu một sự kiện lớn của công ty khiến giá cổ phiếu cao hơn hoặc thấp hơn đáng kể, P / E Trailing sẽ không phản ánh rõ những thay đổi đó.

P/E ngành và P/E thị trường

P/E ngành là P/E bình quân của các công ty trong ngành, tính toán P/E ngành bằng cách bình quân gia quyền theo trọng số là mức vốn hoá của các công ty. P/E ngành là các chỉ tiêu dùng để so sánh khi định giá. Tuy nhiên, việc tính toán và cung cấp thông tin ở các kênh thông tin rất khác nhau, ở phần sau sẽ nói rõ hơn.

P/E thị trường P/E bình quân của toàn bộ chứng khoán trên thị trường, tính toán P/E ngành bằng cách bình quân gia quyền theo trọng số là mức vốn hoá của các công ty.

Có các cách để tính chỉ số P/E của thị trường đó là:
Lấy Tổng vốn hoá toàn thị trường chia cho tổng thu nhập toàn thị trường
Lấy chỉ số giá thị trường chia cho thu nhập toàn thị trường
P/E hiện nay được cung cấp bởi hầu hết Website uy tín là P/E đã điều chỉnh (P/E đã điều chỉnh là P/E đã loại đi các yếu tố ảnh hưởng đến số lượng cổ phiếu lưu hành). Các tổ chức quốc tế cũng thường xuyên báo cáo về TTCK Việt Nam như HSBC, Bloomberg,…

pe-nganh

Chỉ số PEG là gì

Do không phải lúc nào cũng cho bạn biết liệu P/E có phù hợp với tốc độ tăng trưởng dự báo của công ty hay không. Vì vậy, để giải quyết giới hạn này, các nhà đầu tư chuyển sang một tỷ lệ khác gọi là  chỉ số PEG .

Nếu P/E cho bạn biết cổ phiếu đó là đang mắc hay là rẻ trong thời điểm hiện tại. Thì PEG cho bạn biết cổ phiếu đó là đang mắc hay là rẻ trong tương lai.

Nói cách khác, chỉ số PEG cho phép các nhà đầu tư tính toán xem giá cổ phiếu có được định giá cao hay bị định giá thấp hay không bằng cách phân tích cả thu nhập ngày nay và tốc độ tăng trưởng dự kiến ​​cho công ty trong tương lai.

Cách tính chỉ số PEG

PEG= (P/E) chia cho G. Trong đó G chính là tốc độ phát triển.
Nếu PEG = 1 thì công ty đang ở mức giá bình thường
Nếu PEG < 1 là rẻ tương đối,
Nếu PEG < 0.5 là siêu rẻ, đáng để all in…
Nếu PEG > 1 là đắt tương đối


Bây giờ thì bạn xem một ví dụ cụ thể nhé.
Một mã cổ phiếu nọ có EPS= 10, thị giá hiện tại là 200 từ đó suy ra P/E = 200/10 = 10.
Giả sử mã cổ phiếu đó có tốc độ tăng trường bình quân là khoảng 25%/năm.
Khi đó PEG = 20/25 <1. Và khi PEG <1 tức là cổ phiếu này vẫn còn rẻ.

Chỉ số P/E cao hay thấp thì tốt

Nói dễ hiểu, tỷ lệ P/E cho thấy những gì thị trường định giá cho một cổ phiếu dựa trên thu nhập từ cổ phiếu đó trong quá khứ hoặc tương lai của nó. Mặc dù P / E thường được coi là một dấu hiệu cho thấy công ty đã được định giá như thế nào trong quá khứ, nhưng đó cũng là một dấu hiệu cho thấy các nhà đầu tư nghĩ gì về tương lai của nó. Đó là bởi vì giá cổ phiếu là sự phản ánh về cách mọi người nghĩ rằng một cổ phiếu sẽ hoạt động trong tương lai.
  • Các công ty có P / Es cao là một dấu hiệu cho thấy các nhà đầu tư mong đợi tăng trưởng thu nhập cao hơn trong tương lai.
  • Ngược lại, P / E thấp có thể đại diện cho một công ty bị định giá thấp hoặc đang hoạt động tốt hơn so với công ty đã làm trong những năm gần đây.


Theo dõi kiến thức mới từ Cafe Chứng Khoán

* indicates required


Hạn chế của chỉ số P/E

Hạn chế lớn nhất của tỷ lệ P/E là khiến cho các nhà đầu tư rất dễ phạm sai lầm, nếu đánh giá không đúng về triển vọng tăng trưởng của công ty.

Nếu công ty đang phát triển nhanh chóng, nhà đầu tư có thể thoải mái mua nó với tỷ lệ P/E cao, hy vọng tăng trưởng EPS sẽ đưa P/E trở lại mức thấp hơn. Nếu thu nhập không tăng đủ nhanh, bạn có thể tìm một cổ phiếu có P/E thấp hơn.

Nợ hoặc đòn bẩy cũng có thể làm chỉ số P/E bị lệch lạc một cách gián tiếp. Nợ cao hơn (rủi ro lớn hơn) có thể làm giảm mức độ sẵn lòng của nhà đầu tư trả giá cao hơn cho cổ phiếu và làm giá giảm, nhưng đòn bẩy thường làm tăng EPS của công ty và do đó có thể làm P/E trở nên hấp dẫn. Tuy nhiên, nếu lợi nhuận thay vì giảm, phần dành cho các cổ đông sẽ giảm vì chủ nợ sẽ phải trả trước.

Thật khó để biết liệu P/E cao có phải là kết quả của sự tăng trưởng dự kiến ​​hay nếu cổ phiếu chỉ đơn giản là được định giá quá cao. Để giải quyết bài toán này, chỉ số PEG ra đời để cải tiến chỉ số P/E, bạn cũng có thể đọc them tại phần chỉ số PEG là gì.

Lạm dụng trong sử dụng P/E

Không một tỷ lệ nào có thể cho bạn biết tất cả những gì bạn cần biết về một cổ phiếu. Cần sử dụng nhiều tỷ lệ khác nhau để đi đến một bức tranh hoàn chỉnh về sức khỏe tài chính của công ty và định giá cổ phiếu của công ty.

Khi nhận định về sự hấp dẫn của thị trường chứng khoán Việt Nam, các chuyên gia phân tích hầu hết đều sử dụng chỉ số P/E bình quân toàn thị trường như một công cụ định giá thị trường. Một trích đoạn quen thuộc của các chuyên gia tài chính: “P/E bình quân TTCK Việt Nam theo thống kê của Bloomberg đang là 16.5 lần, thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực, chẳng hạn như Phillipines hay Indonesia với mức P/E trên 20 lần; điều đó chứng minh rằng cổ phiếu trên TTCK Việt Nam đang khá rẻ.”


pe-viet-nam-so-voi-khu-vuc

Cách nhìn nhận này thoạt nhiên nghe có vẻ hợp lý và thậm chí được sử dụng rộng rãi trên các phương tiện đại chúng như một thông lệ bình thường. Tuy nhiên, nếu hiểu rõ hơn về bản chất của chỉ số P/E và điểm khác biệt về kinh tế giữa các quốc gia, sẽ nhận thấy chỉ nhìn vào chỉ số P/E để quyết định đây là một cách so sánh sai về mặt bản chất, dẫn tới những dự báo và nhận định khá chủ quan.

Định giá cổ phiếu bằng chỉ số P/E

Có rất nhiều phương pháp định giá chứng khoán, ví dụ như ước lượng giá trị tài sản thực, chiết khấu dòng tiền, phương pháp P/E... Trong đó phương pháp P/E khá hiệu quả trong việc đánh giá nhanh một doanh nghiệp, sử dụng dễ dàng cho dân không chuyên về tài chính và sử dụng được trên đa số các cổ phiếu.

Ví dụ về cách định giá bằng P/E: lấy lại ví dụ về Bank of America ở trên, theo cách tính thì Bank of America có P/E=19. Tuy nhiên, bản thân P/E 19 khó có thể nhìn nhận là đang định giá cao hay thấp nếu thiếu con số so sánh.

Một số cách so sánh phổ biến là so sánh với P/E chung của nhóm ngành chứng khoán (do nghiệp vụ chính của Bank of America là chứng khoán), cũng có thể so sánh với chỉ số chuẩn toàn thị trường, hoặc P/E bình quân trong lịch sử của cổ phiếu này.

Nói về so sánh về chỉ số chuẩn của thị trường và bình quân P/E lịch sử của cổ phiếu thì khá đơn giản

  • -          P/E cổ phiếu < trung bình thị trường, P/E bình quân lịch sử của cổ phiếu =>định giá thấp
  • -          P/E cổ phiếu > trung bình thị trường, P/E bình quân lịch sử của cổ phiếu =>định giá cao

So sánh P/E cổ phiếu với trung bình ngành

Bản thân P/E đứng riêng lẻ là khá vô dụng; con số không cho bạn biết bất cứ điều gì trừ khi bạn so sánh nó với P/E của các công ty khác trong cùng ngành. Các công ty có P/E thấp hơn được coi là "rẻ hơn" để mua - với số tiền họ kiếm được, giá cổ phiếu của họ rẻ hơn

Ví dụ: Cổ phiếu ABC đang giao dịch ở mức 15 đô la / cổ phiếu và có P / E là 50. Cổ phiếu XYZ đang giao dịch ở mức 85 đô la / cổ phiếu và có P / E là 35. Tuy nhiên, rẻ hơn là mua Cổ phiếu XYZ,  dù giá cổ phiếu cao hơn Cổ phiếu ABC. Đó là bởi vì với Cổ phiếu XYZ, một người trả 35 đô la cho mỗi 1 đô la thu nhập, trong khi với Cổ phiếu ABC, một người trả 50 đô la cho mỗi 1 đô la thu nhập.

Lưu ý: Tìm hiểu sâu về P/E sẽ thấy rằng rằng việc so sánh tỷ lệ P / E giữa các công ty không liên quan là vô ích, dù chúng có cùng 1 ngành. Do định giá và tốc độ tăng trưởng rất khác nhau giữa các ngành, các công ty được so sánh phải rất giống nhau về cả quy mô và lĩnh vực để có thể so sánh bằng cách sử dụng tỷ lệ P / E.

So sánh P/E cổ phiếu với P/E trung bình ngành thì khó hơn, có nhiều trường hợp khác nhau cần lưu ý.

Dù các công ty trong cùng 1 ngành, thông thường có kết cấu tương đối giống nhau về doanh thu và kì vọng lợi nhuận. Nhưng trong cùng 1 ngành cũng lại chia ra các phân khúc đầu ngành, trung ngành và cuối ngành. Cần so sánh P/E của cổ phiếu cần phân tích với P/E trung bình của các công ty cùng phân khúc.

Ví dụ: P/E của SSI, VCI và HCM tương đối giống nhau quanh mốc 15-20 trong giai đoạn 2018. Đều là các công ty đầu ngành chứng khoán, có thể so sánh với nhau được.
Tuy nhiên, Nếu so sánh P/E của cổ phiếu SHS và VND, có thể xếp vào diện tầm trung của ngành, đang ở quanh vùng 7–8, so với P/E ở mức 15 của cổ phiếu SSI và HCM, dễ dàng thấy rằng P/E của SHS và VND đang khá rẻ so với tiềm năng của 2 cổ phiếu này, đặc biệt trong những giai đoạn chứng khoán  sôi động, hứa hẹn đem lại lợi nhuận khủng.

Các lưu ý về chỉ số P/E

Không phải lúc nào cổ phiếu P/E cao cũng là đang định giá cao: Các công ty tăng trưởng nhanh thường có P/E cao hơn bình quân chung của thị trường. Ví dụ như các công ty công nghệ chẳng hạn, tỷ lệ P/E cao hơn cho thấy các nhà đầu tư sẵn sàng trả giá cổ phiếu cao hơn hiện nay vì kỳ vọng tăng trưởng trong tương lai.

P/E trung bình cho VNIndex dao động từ 12 đến 20. Vì vậy, đối với 1 công ty tăng trưởng có P/E là 25, cho thấy các nhà đầu tư mong đợi sự tăng trưởng cao hơn từ công ty so với thị trường chung.

P/E còn xác định tăng trưởng thu nhập trong tương lai. Ví dụ, nếu thu nhập dự kiến ​​sẽ tăng, kết quả là các nhà đầu tư có thể mong đợi công ty tăng cổ tức. Thu nhập cao hơn và cổ tức tăng thường dẫn đến giá cổ phiếu cao hơn.

Định giá một số cổ phiếu tiêu biểu bằng P/E

Các định giá sau trích từ bài viết của Lio về định giá bằng P/E

Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (HOSE:VNM)

Hiện tại VNM có mức P/E 30, và mức tăng trưởng bình quân của VNM trong những năm gần đây hiện cũng là xấp xỉ 25–30%. Nếu tính theo PEG lấy hằng số bằng 1 thì vừa đúng mức P/E hiện tại đang rất hợp lí, nếu lấy hằng số 0.7 như của tôi thì lại là hơi đắt. Nhưng cổ phiếu VNM này rất đặc biệt, và nên dùng hằng số là 1 sẽ hợp lí hơn của tôi. Vì VNM là công ty có vốn hóa cực lớn, cực đều đặn, minh bạch và còn tiềm năng nhiều. Do đó được các tổ chức lớn nắm giữ cực kì chặt, chỉ ôm thêm chứ ít nhả ra, do vậy giá cổ phiếu sẽ cao làm P/E cao lên, đặc biệt giai đoạn sóng gần đây tăng từ 150–200 đã làm cho P/E của VNM tăng rất nhiều.

SMC: Công ty thép này hiện có EPS gần 10k và P/E bằng 2.6. 

Thấp đến mức khó tin. Nhưng hãy đào sâu 1 chút vào lợi nhuận.từ 1 công ty làm ăn rất bết bát vào 2013 2014 2015, thậm chí 2015 lỗ. Năm 2016 lợi nhuận của SMC cực kì đột biến, đặc biệt ở quý 2 và 4. Chủ yếu là do giá vốn giảm sâu, và chi phí lãi vay giảm mạnh 60 tỉ so với 2015. Nhưng sang đến năm 2017, các quý 1 2 3 tổng lãi đạt cỡ xấp xỉ 210 tỉ, rõ ràng đã sụt giảm rất nhiều so với 2016. Nếu tính chia ra eps năm nay vẫn có thể đạt cỡ 6.5k. Nếu nhân với 1 mức P/E khiêm tốn là 6 thì SMC cũng có giá gần 40k. Tuy nhiên giai đoạn 2016 giá đã tăng gần 5 lần, do đó phần nào tạo tâm lí lo ngại cho 1 số nhà đầu tư khi giá tăng quá nhiều, họkhôngbiết liệu họ có bị đu đỉnh hay không. Do vậy họ không dám mua cổ phiếu này, làm cho giá cp SMC đang ở mức tương đối thấp. Tuy nhiên lợi nhuận của doanh nghiệp này chưa thể hiện được sự chắc chắn, và phụ thuộc rất nhiều vào giá vốn cũng như lãi vay, hơn nữa doanh thu của SMC trong mấy năm qua cũng không hề được cải thiện rõ rệt. Nhưng nếu SMC tiếp tục duy trì được đà lợi nhuận tốt, không cần đột biến, chỉ cần đều đặn và tăng nhẹ, thì cái giá 27 hiện tại quá rẻ cho 1 cổ phiếu như thế này. Trường hợp TLH tương tự, cũng cùng nghành thép luôn.

Vinasun: VNS

Trường hợp này tôi rất ghét vì cái vụ dán khẩu hiệu bài trừ uber và grab, 1 số bạn hỏi tôi rằng thấy bọn này cũng tạm tạm, nhưng sao có lúc P/E còn có 4. Tôi xin trả lời luôn là 4 có khi còn đắt. Vì nhìn trên bctc, dễ dàng nhận ra doanh thu và lợi nhuận mấy quý gần đây giảm dần dần do sự cạnh tranh của uber và grab. Với sự mở rộng của 2 công ty uber và grab , nếukhôngsớm thay đổi, VNS sẽ phải bán taxi lấy tiền mà trả cổ tức.
ROS: P/E 217 rất là phù hợp, nhưng phù hợp với tỉ phú như a Quyết chứkhôngphù hợp với nhỏ lẻ chúng ta.

Những yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số P/E

Không tồn tại cái gọi là giá trị thực trong định giá cổ phiếu

Giá trị thực về bản chất không phải là con số chính xác. Mỗi chuyên gia phân tích, hay kể cả các tổ tức lớn, 100 tổ chức định giá có thể đưa ra 100 mức định giá khác nhau. Không nên tôn sùng thần thánh hóa định giá của bất cứ tổ chức nào, công thức cũng chỉ là công thức, quan trọng là cái hồn, cái tầm của người định giá.

Cần ước lượng khoảng giá trị thực, chứ đừng nên tính một con số chính xác

Ta sẽ có 4 con số, con số về mức lợi nhuận bi quan nhất và lạc quan nhất, P/E bi quan nhất và P/E lạc quan nhất. Lấy 4 số này nhân từng cặp ta sẽ ra được 4 giá trị giá. Ta lấy trong vùng này để đạt hiệu quả tối ưu.
VD: Ta có 2 mức EPS bi quan và lạc quan nhất lần lượt là 2k và 2,5k
Ta có mức P/E dự phóng bi quan và lạc quan nhất lần lượt là 6 và 7
Vậy sẽ ra được 4 giá trị của cổ phiếu: 12k, 14k, 15k và 17,5k. Chúng ta nên xem xét cả 4 mức giá trị này.

Lợi nhuận sau thuế phải tính trên thu nhập bền vững

Loại bỏ những thu nhập bất thường vì trong dài hạn nó không có nhiều ý nghĩa, chỉ có ý nghĩa trong ngắn hạn. Khi doanh nghiệp thường xuyên bán tài sản ra thu tiền, doanh nghiệp đó đang gặp vấn đề gì đó và hết sức cẩn trọng khi áp dụng đầu tư giá trị.

Phải định giá trước khi mua

Con người là động vật rất nguy hiểm, rất hay làm những gì có lợi cho mình. Vậy nên cố gắng định giá trước khi mua chứ không nên mua xong mới định giá để đảm bảo kết quả khách quan. Hơn nữa là phải cực kì cẩn trọng. Trong định giá, thận trọng tốt hơn lạc quan.

Nên đảm bảo biên an toàn 20–30% so với giá trị thấp nhất

Ví dụ định giá được vùng giá trị tầm 25–30 thì chỉ nên mua ở mức giá 20 thôi. Để nhỡ mình có tính sai chỗ nào còn đỡ chết.
P/E chỉ là 1 phương pháp định giá, không thể áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp.
Phải áp dụng cực kì linh hoạt, và phối hợp nhiều phương pháp đánh giá khác nhau để đạt hiệu quả tối ưu.


Tài liệu tham khảo

Không có nhận xét nào